Đằng sau tranh cãi về Hồi giáo là khủng hoảng thật sự của châu Âu: Hội nhập, an ninh và bản lĩnh chính trị

15 tháng 4, 2026

Đằng sau tranh cãi về Hồi giáo là khủng hoảng thật sự của châu Âu: Hội nhập, an ninh và bản lĩnh chính trị

Châu Âu không chỉ đối mặt với một “vấn đề Hồi giáo” đơn giản. Sự thật khó khăn hơn là hội nhập thất bại, những cú sốc an ninh lặp đi lặp lại, và một tầng lớp chính trị lúc thì chối bỏ, lúc lại hoảng loạn. Hỗn hợp này đang làm phe cực hữu mạnh lên và khoét sâu sự mất lòng tin trên khắp châu lục.

Cuộc tranh luận của châu Âu về Hồi giáo thường được đặt ra theo cách ngớ ngẩn nhất có thể. Một bên nói rằng lục địa này đang bị bao vây về mặt văn minh. Bên còn lại khăng khăng vấn đề thực sự chỉ là phân biệt chủng tộc, và bất kỳ mối lo ngại nào rộng hơn đều bị coi là đáng ngờ. Cả hai câu chuyện đều quá gọn gàng. Cả hai đều né tránh mớ hỗn độn ngay trước mắt. Điều châu Âu thực sự đang đối mặt là một cuộc khủng hoảng ba phần: hội nhập không đồng đều, nỗi lo sợ an ninh có thật sau nhiều năm bị tấn công thánh chiến, và sự thất bại chính trị trong việc bảo vệ các quy tắc tự do mà không biến hàng triệu người Hồi giáo bình thường thành vật tế thần.

Điều đó có ý nghĩa vượt xa biên giới châu Âu. Các tuyến đường di cư vượt qua Địa Trung Hải. Các cuộc chiến ở Trung Đông lan sang chính trường châu Âu. Các đảng từng bị coi là ngoài lề nay lại định hình các chính phủ và đặt ra luật chơi cho các cuộc tranh luận. Đây không còn chỉ là một cuộc chiến văn hóa nội bộ ở Paris, Berlin hay Stockholm. Đây là một bài kiểm tra xem liệu các nền dân chủ tự do có thể tiếp nhận sự đa dạng tôn giáo, kiểm soát biên giới và thực thi một tiêu chuẩn luật pháp chung mà không tự làm mình tan rã hay không.

Vấn đề an ninh không phải là bịa đặt. Châu Âu đã phải gánh chịu các cuộc tấn công khủng bố Hồi giáo cực đoan lặp đi lặp lại trong thập kỷ qua, từ Paris và Brussels đến Berlin, Manchester, Barcelona, Vienna và nhiều nơi khác. Quy mô có thay đổi theo từng năm, nhưng mô-típ này đã in sâu vào ký ức của công chúng. Dữ liệu từ Europol cho thấy các âm mưu và vụ bắt giữ liên quan đến thánh chiến vẫn là một mối lo ngại nghiêm trọng ngay cả khi tổng số vụ tấn công giảm xuống. Cú sốc này không chỉ nằm ở con số mà còn ở khía cạnh chính trị. Một vài cuộc tấn công nổi bật có thể làm thay đổi lòng tin của công chúng nhiều hơn cả một kho thống kê thầm lặng.

Nhưng lời khẳng định thẳng thừng rằng châu Âu đơn giản là có “quá nhiều người Hồi giáo” sẽ sụp đổ khi đối mặt với thực tế. Dân số Hồi giáo ở châu Âu rất đa dạng về sắc tộc, tầng lớp, thần học và chính trị. Trung tâm Nghiên cứu Pew ước tính vào cuối những năm 2010 rằng người Hồi giáo chiếm khoảng 5% dân số châu Âu, với tỷ lệ cao hơn ở một số quốc gia và thành phố. Con số này là đáng kể, nhưng đó không phải là một cuộc xâm chiếm về nhân khẩu học. Hầu hết người Hồi giáo ở châu Âu không phải là những kẻ cực đoan, không ủng hộ bạo lực, và cũng đang đối mặt với những áp lực giống như mọi người khác: tiền thuê nhà, công việc, trường học và gia đình. Giả vờ rằng mọi chuyện không phải vậy là tuyên truyền, chứ không phải phân tích.

Vấn đề khó hơn là hội nhập, và ở đây những huyền thoại dễ nghe cũng tan vỡ. Ở một số nước châu Âu, người di cư và một số cộng đồng thế hệ thứ hai đã có kết quả kém hơn trên thị trường lao động, trình độ học vấn thấp hơn trong một số môi trường, và tình trạng phân biệt nơi ở cao hơn. OECD và các tổ chức châu Âu khác đã nhiều lần tìm thấy khoảng cách về việc làm và thu nhập giữa dân bản xứ và nhiều nhóm người nhập cư, mặc dù quy mô khác biệt rõ rệt theo từng quốc gia. Nói một cách đơn giản, một số quốc gia đã xây dựng các khu phố cho người nhập cư và rồi tỏ ra sốc khi sự ghẻ lạnh bén rễ. Những lời rao giảng đạo đức sáo rỗng đã thay thế cho chính sách nghiêm túc.

Pháp là trường hợp rõ ràng nhất của sự mâu thuẫn này. Nền cộng hòa rao giảng một bản sắc chung và mô hình thế tục nghiêm ngặt. Tuy nhiên, nhiều vùng ngoại ô trong nhiều năm đã phải sống với nạn thất nghiệp cao, trường học quá tải và tình hình trị an căng thẳng. Nhà nước đòi hỏi lòng trung thành, nhưng quá thường xuyên lại mang đến sự bỏ mặc. Điều đó không bào chữa cho chủ nghĩa bè phái, tội phạm hay chủ nghĩa cực đoan. Nhưng nó giải thích tại sao những lời kêu gọi từ các nhà thuyết giáo cực đoan, mạng lưới online, hay những kẻ buôn bán bản sắc lại có thể thu hút một thiểu số người trẻ. Những người trẻ này cảm thấy bị loại trừ khỏi cả văn hóa của cha mẹ mình và dòng chảy chính của quốc gia.

Thụy Điển, từng được ca ngợi là một cường quốc nhân đạo, cũng đã phải đối mặt với một sự điều chỉnh tàn khốc. Nước này đã tiếp nhận một số lượng lớn người xin tị nạn, đặc biệt là trong cuộc khủng hoảng di cư năm 2015. Sau đó, nước này chứng kiến mối lo ngại gia tăng về bạo lực băng đảng, các quận bị tách biệt và kết quả hội nhập yếu kém. Sẽ là sai lầm nếu nói rằng Hồi giáo gây ra vấn đề tội phạm của Thụy Điển. Tội phạm được định hình bởi đói nghèo, các mạng lưới địa phương, chính sách trị an, buôn bán ma túy và sự đổ vỡ xã hội. Nhưng cũng sẽ là không trung thực nếu giả vờ rằng việc di cư nhanh chóng vào các khu đô thị hội nhập kém không tạo ra căng thẳng nào. Chính trường Thụy Điển đã thay đổi là có lý do.

Đức đưa ra một lời cảnh báo khác. Nước này đã tiếp nhận một lượng lớn người tị nạn vào năm 2015 và sau đó. Nhiều người đã tìm được việc làm và xây dựng lại cuộc sống. Điều đó là sự thật và cần được nói rõ. Nhưng Đức cũng phải vật lộn với tình trạng thiếu nhà ở, các dịch vụ địa phương quá tải và một phản ứng dữ dội từ công chúng đã góp phần thúc đẩy sự trỗi dậy của đảng Lựa chọn vì nước Đức. Bài học không phải là việc bảo vệ người tị nạn là không thể. Mà là các quốc gia không thể tách rời các quyết định nhân đạo khỏi năng lực hội nhập lâu dài và rồi tỏ ra ngạc nhiên khi cử tri nổi dậy.

Đây là điểm yếu nhất của tầng lớp chính trị. Trong nhiều năm, quá nhiều nhà lãnh đạo chính thống đã coi các mối lo ngại là điều cấm kỵ. Những lo ngại này bao gồm chủ nghĩa cực đoan Hồi giáo, hôn nhân cưỡng ép, chủ nghĩa bài Do Thái trong một số cộng đồng Hồi giáo, hay áp lực mà các cô gái phải đối mặt về ăn mặc và hành vi. Họ hành động như thể chính việc nêu ra vấn đề mới là điều sai trái. Đó là sự hèn nhát khoác áo lòng khoan dung. Cùng lúc đó, phe cực hữu đã lấy những thất bại có thật và thổi phồng chúng thành một bản cáo trạng toàn diện đối với Hồi giáo như một tôn giáo và người Hồi giáo như những người hàng xóm. Đó cũng không phải là lòng can đảm. Đó là chủ nghĩa cơ hội.

Hậu quả rất tồi tệ và mang tính toàn cầu. Các cộng đồng Do Thái ở nhiều nơi tại châu Âu đã phải đối mặt với nỗi sợ hãi ngày càng tăng sau cả các cuộc tấn công thánh chiến và những căng thẳng rộng hơn liên quan đến xung đột Trung Đông. Các cộng đồng Hồi giáo phải đối mặt với sự nghi ngờ, quấy rối và nhắm mục tiêu chính trị gia tăng sau mỗi vụ việc kinh hoàng. Trường học trở thành chiến trường tranh cãi về các quy tắc thế tục, quyền phát biểu và lịch sử. Các chính phủ nước ngoài, bao gồm Thổ Nhĩ Kỳ và các quốc gia vùng Vịnh theo những cách khác nhau, đôi khi đã cố gắng định hình các mạng lưới nhà thờ Hồi giáo, giáo dục tôn giáo hay chính trị của cộng đồng hải ngoại. Những thất bại trong nước của châu Âu trở thành cơ hội cho ảnh hưởng từ bên ngoài.

Cũng có một cái giá về địa chính trị. Mỗi cuộc tranh cãi hỗn loạn ở châu Âu về di cư và Hồi giáo đều nuôi dưỡng các đảng dân tộc chủ nghĩa. Những đảng này vốn hoài nghi về Liên minh châu Âu, thù địch với hệ thống tị nạn và sẵn sàng phá vỡ các chuẩn mực tự do cũ. Sự thay đổi đó ảnh hưởng đến mọi thứ, từ chính sách đối với Ukraine đến các cuộc chiến về ngân sách và quan hệ với Bắc Phi. Một châu lục không thể quản lý bản sắc trong nước sẽ trở nên yếu hơn ở nước ngoài. Đó là câu chuyện lớn hơn, và nó chưa nhận được đủ sự chú ý.

Vậy một phản ứng nghiêm túc sẽ trông như thế nào? Thứ nhất, các chính phủ cần từ bỏ ảo tưởng rằng kiểm soát biên giới và hội nhập là những giá trị đối lập. Chúng có liên quan đến nhau. Các quốc gia cần có hệ thống tị nạn đáng tin cậy, quyết định nhanh hơn, trả về nhiều hơn đối với các đơn xin bị từ chối, và sự rõ ràng hơn về mặt pháp lý. Nếu không có điều đó, lòng tin của công chúng sẽ sụp đổ và những kẻ cực đoan ở mọi phía sẽ thắng thế. Thứ hai, châu Âu cần hành động cứng rắn hơn, thông minh hơn chống lại các mạng lưới Hồi giáo cực đoan rao giảng bạo lực hoặc bác bỏ trật tự hiến pháp cơ bản. Điều đó có nghĩa là trị an, công tác tình báo, giám sát tài chính và phi cực đoan hóa trong nhà tù nếu có thể.

Thứ ba, và đây là phần mà những kẻ theo hệ tư tưởng cực đoan ghét, châu Âu phải đầu tư nhiều hơn vào việc hội nhập gắn liền với những kỳ vọng. Việc học ngôn ngữ, hỗ trợ trường học, tiếp cận việc làm và thực thi chống phân biệt đối xử đều quan trọng. Các quy tắc công dân không thể thương lượng cũng vậy. Bình đẳng trước pháp luật không phải là phân biệt chủng tộc. Các thể chế công thế tục không phải là sự áp bức. Tự do của phụ nữ không phải là một sở thích văn hóa. Các quốc gia nên bảo vệ những nguyên tắc này một cách mạnh mẽ, nhất quán và không cần xin lỗi.

Châu Âu cũng cần những đồng minh tốt hơn ngay trong các cộng đồng Hồi giáo, và họ tồn tại với số lượng lớn. Những vị imam có tư tưởng cải cách, những bậc cha mẹ muốn con cái thành công, những người phụ nữ chống lại áp lực gia trưởng, và các nhà lãnh đạo địa phương đang cố phá vỡ vòng luẩn quẩn của sự cô lập. Họ đang làm nhiều điều cho hòa bình xã hội hơn nhiều chính trị gia quốc gia. Họ thường bị phớt lờ vì không phù hợp với kịch bản ưa thích của cả phe cánh tả hoạt động xã hội lẫn phe cánh hữu dân tộc chủ nghĩa.

Vụ bê bối thực sự không phải là châu Âu có người Hồi giáo. Mà là châu Âu vẫn chưa quyết định được loại hình đa nguyên nào mà họ sẵn sàng bảo vệ. Một nền dân chủ nghiêm túc có thể vừa bảo vệ tự do tôn giáo, vừa đè bẹp chủ nghĩa cực đoan bạo lực. Nó có thể bác bỏ việc đổ lỗi tập thể trong khi yêu cầu sự hội nhập thực sự. Nó có thể thể hiện lòng trắc ẩn mà không từ bỏ các tiêu chuẩn. Nếu châu Âu cứ tiếp tục chọn chối bỏ trong năm nay và hoảng loạn vào năm sau, kết quả sẽ còn tồi tệ hơn cả một chính sách thất bại. Đó sẽ là sự xói mòn lòng tin vào chính nền dân chủ tự do.

Nguồn: Editorial Desk

Ấn phẩm

The World Dispatch

Nguồn: Editorial Desk

Danh mục: Thế giới