Trung Đông không còn chia thành hai phe đối đầu

2 tháng 4, 2026

Trung Đông không còn chia thành hai phe đối đầu

Bản đồ chính trị cũ của Trung Đông được xây dựng trên các khối đối địch cứng nhắc. Tấm bản đồ đó đang phai nhạt khi các đối thủ bắt đầu giao thương với nhau và từ chối chọn một bên bảo trợ duy nhất. Điều này tạo ra một khu vực khó kiểm soát hơn nhưng cũng khó lường hơn.

Trong nhiều năm, cách giải thích chính trị Trung Đông rất đơn giản: chọn một phe. Các quốc gia thường được mô tả là thuộc phe thân Mỹ, phe được Iran hậu thuẫn, hoặc đôi khi là một nhóm nhỏ hơn cố gắng đứng ngoài cuộc. Bức tranh đó chưa bao giờ hoàn toàn chính xác, nhưng nó hữu ích. Giờ đây, nó đã không còn mấy hữu ích nữa. Trên khắp khu vực, các chính phủ không chấm dứt sự kình địch, mà đúng hơn là đang tìm cách quản lý nhiều mối quan hệ đối đầu cùng lúc. Họ đang mở lại các đại sứ quán, khôi phục thương mại, mua vũ khí từ nhiều nhà cung cấp khác nhau, và đối thoại với cả những kẻ thù mà họ vẫn không tin tưởng. Trung Đông không hề trở nên yên bình. Khu vực này đang trở nên linh hoạt và biến động hơn.

Bằng chứng thể hiện rõ qua một loạt thay đổi mà không lâu trước đây tưởng chừng như không thể xảy ra. Ả Rập Saudi và Iran đã nối lại quan hệ ngoại giao vào năm 2023 sau nhiều năm thù địch công khai. Thỏa thuận này do Trung Quốc làm trung gian. Bản thân điều đó đã là một dấu hiệu cho thấy ảnh hưởng từ bên ngoài trong khu vực không còn chỉ do Washington định hình. Thổ Nhĩ Kỳ, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, Ả Rập Saudi, Ai Cập, Qatar và Israel đều đã dành vài năm qua để chuyển từ đối đầu công khai sang hợp tác có chọn lọc, ngay cả khi những bất đồng chính trị sâu sắc vẫn còn đó. Syria, vốn bị phần lớn thế giới Ả Rập cô lập sau khi nội chiến bắt đầu vào năm 2011, đã được kết nạp lại vào Liên đoàn Ả Rập vào năm 2023. Hiệp định Abraham đã bình thường hóa quan hệ giữa Israel và một số quốc gia Ả Rập, nhưng ngay cả điều đó cũng không tạo ra một khối cố định mới. Sau khi cuộc chiến ở Gaza bắt đầu vào tháng 10 năm 2023, một số chính phủ từng xích lại gần Israel đã phải chịu áp lực trong nước và khu vực, cho thấy các cơ hội chiến lược có thể bị thu hẹp nhanh chóng như thế nào.

Các xu hướng thương mại và đầu tư cũng cho thấy điều tương tự. Các quốc gia vùng Vịnh đang xây dựng quan hệ theo nhiều hướng cùng một lúc. Trung Quốc đã trở thành đối tác thương mại lớn nhất của nhiều quốc gia trong khu vực. Theo dữ liệu hải quan Trung Quốc và các ước tính lâu năm của thị trường năng lượng, Trung Quốc mua một lượng lớn dầu thô từ Ả Rập Saudi, Iraq, UAE và Iran. Đồng thời, Mỹ vẫn là đối tác an ninh bên ngoài chính của nhiều quốc gia quân chủ vùng Vịnh, với hàng chục nghìn binh sĩ, các hệ thống phòng không và các liên kết tình báo sâu rộng trên khắp khu vực. Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm đã nhiều lần chỉ ra rằng các dòng vũ khí chính vào Trung Đông vẫn phụ thuộc nhiều vào các nhà cung cấp của Mỹ và châu Âu, ngay cả khi người mua ngày càng tìm kiếm máy bay không người lái, tên lửa và công nghệ từ Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc, Hàn Quốc và các nước khác. Nói một cách đơn giản, các quốc gia không còn đặt toàn bộ trọng lượng chiến lược của mình vào một mối quan hệ duy nhất.

Sự thay đổi này có một vài nguyên nhân. Thứ nhất là sự suy giảm niềm tin rằng bất kỳ cường quốc bên ngoài nào có thể hoặc sẽ bảo vệ hoàn toàn an ninh cho khu vực. Mỹ vẫn là một cường quốc, nhưng nhiều nhà lãnh đạo khu vực xem hai thập kỷ qua như một lời cảnh báo. Cuộc chiến Iraq đã làm tổn hại uy tín của Mỹ. Phản ứng thiếu nhất quán đối với các cuộc nổi dậy Mùa xuân Ả Rập năm 2011 đã tạo ra những nghi ngờ mới. Các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái và tên lửa vào các cơ sở dầu mỏ của Ả Rập Saudi tại Abqaiq và Khurais năm 2019 là một bước ngoặt khác. Theo các đánh giá năng lượng quốc tế vào thời điểm đó, các cuộc tấn công này đã khiến sản lượng dầu của Ả Rập Saudi giảm gần một nửa trong thời gian ngắn, và cho thấy cơ sở hạ tầng quan trọng đã trở nên dễ bị tổn thương như thế nào. Nhiều người ở vùng Vịnh kết luận rằng ngay cả mối quan hệ thân thiết với Washington cũng không đảm bảo sự bảo vệ trực tiếp trước mọi mối đe dọa lớn.

Nguyên nhân thứ hai là kinh tế. Các chính phủ muốn đa dạng hóa nền kinh tế ngoài dầu mỏ, thu hút đầu tư, và xây dựng các ngành logistics, du lịch và công nghệ không thể để khu vực bị chia rẽ lâu dài. Tầm nhìn 2030 của Ả Rập Saudi, tham vọng thương mại và vận tải của UAE, và các kế hoạch tương tự ở những nơi khác đều đòi hỏi một môi trường khu vực ổn định hơn. Chiến tranh làm các nhà đầu tư sợ hãi. Các cuộc tấn công tên lửa làm tăng chi phí bảo hiểm. Sự gián đoạn vận tải biển gây tổn hại cho các cảng biển và dự án công nghiệp. Điều này càng trở nên rõ ràng hơn kể từ khi các cuộc tấn công của lực lượng Houthi ở Yemen vào tàu bè trên Biển Đỏ đã đẩy nhiều tàu ra khỏi tuyến đường Suez. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và các nhà phân tích vận tải biển lớn đã cảnh báo rằng sự gián đoạn kéo dài làm tăng chi phí vận chuyển và thời gian giao hàng. Đối với các quốc gia tự quảng bá mình là trung tâm kết nối giữa châu Á, châu Phi và châu Âu, đó không phải là một mối lo ngại trừu tượng. Đó là một mối đe dọa trực tiếp đối với tăng trưởng.

Nguyên nhân thứ ba là các quốc gia trong khu vực đã tự tin hơn vào khả năng xoay xở của chính mình. Các quốc gia quân chủ vùng Vịnh, Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập và Israel đều không còn xem mình chỉ là "khách hàng" của các cường quốc lớn hơn, mà tự coi mình là những cường quốc thực thụ. Họ có các quỹ tài sản quốc gia lớn hơn, ngành công nghiệp quốc phòng mạnh hơn, tầm ảnh hưởng ngoại giao rộng hơn và nhiều kinh nghiệm hơn trong chính sách đối ngoại thực dụng. UAE đã mở rộng sự hiện diện của mình trong lĩnh vực cảng biển, logistics và trung gian hòa giải. Thổ Nhĩ Kỳ đã xây dựng một ngành công nghiệp máy bay không người lái có tầm ảnh hưởng sâu rộng và thể hiện quyền lực từ Libya đến Nam Caucasus. Ả Rập Saudi đã sử dụng cả đòn bẩy năng lượng và các hoạt động ngoại giao cấp cao để nâng cao vị thế của mình. Qatar đã biến vai trò trung gian hòa giải thành một tài sản chiến lược, từ các cuộc đàm phán về Afghanistan đến Gaza. Các quốc gia này cạnh tranh với nhau, nhưng họ cũng biết rằng mình có thể thu được nhiều lợi ích hơn bằng cách để ngỏ nhiều cánh cửa.

Sự linh hoạt mới này mang lại những hệ quả thực sự. Một là khu vực có thể sẽ ít bị tổn thương hơn trước tình trạng đóng băng ngoại giao toàn diện, điều từng làm sâu sắc thêm mọi cuộc xung đột. Khi các đối thủ vẫn còn đối thoại, sự leo thang đôi khi có thể được kìm hãm. Việc nối lại quan hệ giữa Ả Rập Saudi và Iran không giải quyết được các tranh chấp cốt lõi của khu vực, nhưng nó đã giúp tạo ra một kênh liên lạc vào thời điểm mà những tính toán sai lầm có thể đã khiến bạo lực lan rộng hơn. Tuy nhiên, một hệ quả khác là sự răn đe trở nên mơ hồ hơn. Nếu quốc gia nào cũng theo đuổi chính sách cân bằng quan hệ với nhiều bên, thì quốc gia nào cũng đang phát đi những tín hiệu mâu thuẫn. Điều đó có thể làm giảm áp lực đối đầu toàn diện, nhưng cũng có thể khiến các cuộc khủng hoảng trở nên khó đoán hơn.

Những giới hạn của trật tự mới này đã lộ rõ. Cuộc chiến Gaza cho thấy những lằn ranh chia rẽ cũ vẫn còn rất mạnh mẽ. Điều này cũng được thể hiện qua các vụ nổ súng xuyên biên giới liên tiếp giữa Israel, Hezbollah và các nhóm liên kết với Iran, cũng như tình trạng bất ổn đang diễn ra ở Iraq, Syria và Yemen. Việc mở lại các đại sứ quán không xóa bỏ được các lực lượng dân quân, các chương trình tên lửa hay sự thù địch về ý thức hệ. Chúng chỉ đơn giản là tồn tại song song. Theo nghĩa này, khu vực không phải đang chuyển từ xung đột sang hòa bình. Nó đang chuyển từ các phe phái cứng nhắc sang các thỏa thuận chồng chéo. Điều đó có thể làm giảm một số rủi ro nhưng đồng thời lại làm nảy sinh những rủi ro khác.

Đối với các cường quốc bên ngoài, đặc biệt là Mỹ và châu Âu, điều này đòi hỏi một sự thay đổi trong tư duy. Không thể chỉ suy nghĩ theo kiểu các đồng minh trung thành và các đối thủ thù địch được nữa. Cùng một quốc gia có thể cho quân đội Mỹ đồn trú, bán nhiều dầu hơn cho Trung Quốc, lặng lẽ đối thoại với Iran, đầu tư vào các hành lang thương mại Ấn Độ-châu Âu và mua máy bay không người lái từ Thổ Nhĩ Kỳ. Các nhà hoạch định chính sách coi đó là sự không trung thành sẽ hiểu sai những gì các chính phủ trong khu vực đang làm. Họ không nhất thiết là đang rời bỏ hệ thống này để sang một hệ thống khác. Họ đang cố gắng tránh phụ thuộc vào bất kỳ hệ thống đơn lẻ nào.

Một phản ứng tốt hơn sẽ là bớt tập trung vào việc ép buộc chọn phe, và thay vào đó là xây dựng các thỏa thuận thực tế có thể tồn tại qua những biến động chính trị. Điều đó có nghĩa là hợp tác an ninh hàng hải mạnh mẽ hơn, lập kế hoạch phòng không khu vực thực tế hơn, và duy trì ngoại giao đối với các khu vực xung đột đang gây bất ổn lan rộng. Điều đó cũng có nghĩa là ủng hộ các liên kết kinh tế tạo ra lợi ích chung trong việc kiềm chế. Ví dụ, châu Âu có lợi ích trực tiếp trong an ninh Biển Đỏ, các dòng năng lượng từ vùng Vịnh và áp lực di cư do các cuộc chiến trong khu vực tạo ra. Họ sẽ không được lợi gì nhiều nếu nhìn nhận Trung Đông qua lăng kính phe khối cũ kỹ.

Bài học lớn hơn có thể không dễ chịu nhưng rất quan trọng. Việc các phe phái cứng nhắc phai nhạt không có nghĩa là Trung Đông đang thoát khỏi địa chính trị. Ở một khía cạnh nào đó, địa chính trị thậm chí còn trở nên gay gắt hơn vì ngày càng có nhiều bên có được đòn bẩy quyền lực. Trung Quốc có thể làm trung gian, Nga có thể phá đám, Mỹ vẫn có thể bảo vệ và trừng phạt, và các cường quốc khu vực có thể khiến tất cả các bên này chống lại nhau khi cần thiết. Điều đó làm cho khu vực này khó bị thống trị hơn. Nó cũng có thể khiến khu vực khó ổn định hơn.

Dù vậy, tấm bản đồ cũ đã không còn nữa. Khu vực này không còn bị chia cắt rạch ròi thành hai hoặc ba phe chờ lệnh từ bên ngoài. Đó là một bối cảnh của các quốc gia theo đuổi chính sách cân bằng, các mối quan hệ đối tác có chọn lọc và chính sách ngoại giao chiến thuật. Bản thân điều đó không làm cho khu vực an toàn hơn. Nhưng nó có nghĩa là bất kỳ ai cố gắng hiểu giai đoạn tiếp theo của chính trị quyền lực toàn cầu nên ngừng tìm kiếm những lằn ranh cố định và bắt đầu quan sát những khoảng trống ở giữa.

Nguồn: Editorial Desk

Ấn phẩm

The World Dispatch

Nguồn: Editorial Desk

Danh mục: Địa chính trị