Khá»§ng hoảng di cư châu Âu: Cuá»™c chiến thá»±c sá»± giá» nằm sâu trong đất liá»n
15 tháng 4, 2026
Cuộc chiến di cư khốc liệt nhất ở châu Âu đang dịch chuyển vào đất liền. Gánh nặng thực sự giờ đây là nhà ở, trường học và việc làm, nhưng các chính phủ vẫn hành động như thể vấn đề chỉ bắt đầu và kết thúc ở biên giới.
Châu Âu vẫn nói về vấn đề di cư như thể toàn bộ câu chuyện chỉ xảy ra ở một hàng rào, một bãi biển, hay một con tàu tuần tra. Điều đó tiện lợi về mặt chính trị nhưng ngày càng sai sự thật. Các vụ vượt biên chiếm trang nhất, nhưng những gì xảy ra sau đó thì không. Tuy nhiên, phép thử khó khăn hơn của vấn đề di cư không phải là chặn người ở biên giới. Đó là những gì xảy ra sau khi họ đến: liệu họ có được cung cấp nhà ở, đăng ký, đi học, chữa bệnh và có việc làm mà không làm xói mòn lòng tin vào nhà nước hay không. Đây mới là nơi phần lớn châu Âu đang gặp khó khăn, và việc giả vờ như không thấy là một chiến lược không có lối thoát.
Các con số đã nói lên một phần câu chuyện. Cơ quan Tị nạn Liên minh châu Âu ghi nhận hơn 1 triệu đơn xin tị nạn vào năm 2023, một trong những con số cao nhất trong những năm gần đây. Đức vẫn là điểm đến lớn nhất cho người xin tị nạn trong khối. Cùng lúc đó, chính sách bảo vệ tạm thời cho hàng triệu người chạy trốn khỏi cuộc xâm lược của Nga ở Ukraine đã tạo ra một dòng người di dời hàng loạt thứ hai, riêng biệt trên khắp châu Âu. Cộng thêm di cư lao động, đoàn tụ gia đình, và những người nhập cảnh bất thường qua Địa Trung Hải, kết quả không phải là một cuộc khủng hoảng đơn lẻ mà là nhiều hệ thống chồng chéo cùng lúc chịu áp lực.
Tuy nhiên, áp lực này không được phân bổ đồng đều. Ở nhiều quốc gia, vết nứt hữu hình đầu tiên là nhà ở. Tại Hà Lan, tình trạng thiếu hụt nơi tiếp nhận người tị nạn trở nên nghiêm trọng đến mức các quan chức liên tục phải đối mặt với cảnh quá tải tại các trung tâm. Ở Ireland, khả năng cung cấp chỗ ở khẩn cấp bị quá tải khi số người đến ngày càng tăng lại trùng với cuộc khủng hoảng nhà ở trầm trọng vốn đã ảnh hưởng đến người dân. Tại Đức, các thành phố cảnh báo rằng họ đã tới giới hạn, không phải vì đất nước thực sự hết đất, mà vì nhà ở, trường học, dịch vụ chăm sóc trẻ em và nhân viên hành chính tại địa phương đều đã quá tải. Đây không phải là những thất bại hào nhoáng. Chúng là những thất bại của bộ máy hành chính. Nhưng sự thất bại của bộ máy hành chính là điều mà người dân thường cảm nhận như sự hỗn loạn.
Điều đó quan trọng vì dư luận thường trở nên khắt khe hơn không phải vì ý thức hệ trừu tượng, mà vì sự rối loạn có thể thấy được. Các nghiên cứu trên khắp châu Âu từ lâu đã cho thấy mọi người có xu hướng ủng hộ nhập cư hơn khi họ tin rằng hệ thống được kiểm soát và người mới đến đang hòa nhập vào công việc và đời sống cộng đồng. Họ trở nên hoài nghi hơn khi thấy các phòng khách sạn bị biến thành nơi trú ẩn khẩn cấp hàng tháng trời, trẻ em phải chờ đợi để có chỗ đi học, hoặc các đơn xin tị nạn mất nhiều năm để được giải quyết. Điều này không chứng minh mọi lập luận chống người di cư đều đúng. Nó chứng minh một điều khó chịu hơn: năng lực tiếp nhận là một vấn đề chính trị, và sự yếu kém của chính quyền sẽ châm ngòi cho phản ứng dữ dội.
Cuộc tranh luận thông thường đang bị bóp méo nghiêm trọng. Một phe hành động như thể chỉ cần siết chặt biên giới là có thể lập lại trật tự. Phe còn lại thì thường nói như thể những lo ngại về khả năng tiếp nhận chỉ là cái cớ cho thái độ thù địch. Cả hai quan điểm đều bỏ lỡ thực tế. Việc kiểm soát biên giới đúng là quan trọng. Các quốc gia có quyền kiểm soát nhập cảnh, và hệ thống tị nạn sẽ sụp đổ khi người dân tin rằng các quy tắc là tùy tiện hoặc vô nghĩa. Nhưng cũng đúng là nhiều quốc gia đang đối mặt với sự hoảng loạn về di cư thực ra lại đang rất cần người lao động. Eurostat đã nhiều lần chỉ ra tình trạng thiếu hụt lao động trong các ngành từ chăm sóc sức khỏe, xây dựng đến vận tải. Dân số châu Âu đang già đi. Ở hết quốc gia này đến quốc gia khác, có quá ít người lao động để hỗ trợ cho quá nhiều người về hưu. Mâu thuẫn này rất rõ ràng: các chính phủ nói họ cần lao động, nhưng lại xây dựng các hệ thống di cư chậm chạp, hạn chế và hỗn loạn đến mức đẩy những người tuyệt vọng vào con đường xin tị nạn hoặc làm việc không chính thức.
Đây là một lý do khiến cuộc khủng hoảng trong đất liền ngày càng tồi tệ hơn. Các con đường hợp pháp thường quá hẹp, quá chậm hoặc không gắn với nhu cầu lao động thực tế. Các nhà tuyển dụng có thể cần người lao động nhanh chóng, nhưng hệ thống visa lại vận hành chậm như đường ống bị tắc. Văn bằng thường khó được công nhận. Việc đào tạo ngôn ngữ thì đến muộn hoặc không có. Ở một số quốc gia, người xin tị nạn phải chờ nhiều tháng trước khi có thể làm việc hợp pháp, ngay cả khi các doanh nghiệp địa phương đang tha thiết cần nhân viên. Điều đó không nhân đạo và cũng không thông minh. Nó khiến người ta phải ngồi không, trở nên phụ thuộc và dễ bị bêu xấu hơn.
Bằng chứng về việc làm rất đáng chú ý. Trên khắp các nước OECD, việc làm là một trong những yếu tố dự báo mạnh mẽ nhất về sự hội nhập thành công theo thời gian. Nhưng những năm đầu tiên mang tính quyết định. Khi người tị nạn và người xin tị nạn bị ngăn cản khỏi việc làm, nhà ở và hỗ trợ ngôn ngữ ngay từ đầu, chi phí dài hạn sẽ tăng lên. Kinh nghiệm của Đức sau năm 2015 cho thấy cả quy mô của thách thức và lợi ích của các biện pháp hội nhập nhanh hơn. Nghiên cứu của các viện thị trường lao động Đức cho thấy việc làm của người tị nạn tăng đáng kể theo thời gian, nhưng không phải ngay lập tức; ngôn ngữ, đào tạo và công nhận kỹ năng là những điểm nghẽn lớn. Lẽ ra điều đó đã giải quyết được cuộc tranh luận. Hội nhập không phải là phép màu. Đó là chính sách. Trì hoãn nó, và bạn sẽ tạo ra thất bại.
Trường học là một mặt trận khác mà các chính trị gia chỉ thích thảo luận bằng những khẩu hiệu. Trẻ em thường học nhanh hơn người lớn. Đó có thể là một lợi thế rất lớn. Nhưng nó chỉ hiệu quả nếu các trường học địa phương có đủ giáo viên, hỗ trợ ngôn ngữ và không gian lớp học. Ở các thành phố trên khắp châu Âu, hệ thống trường học đã phải tiếp nhận những học sinh đến với việc học bị gián đoạn, sang chấn tâm lý hoặc không biết tiếng địa phương. Nơi nào có sự hỗ trợ mạnh mẽ, kết quả sẽ cải thiện và cộng đồng sẽ thích nghi. Nơi nào hỗ trợ yếu kém, sự bất bình sẽ gia tăng ở mọi phía. Điều tương tự cũng đúng trong lĩnh vực y tế và hành chính địa phương. Độ tin cậy của một hệ thống di cư phụ thuộc vào chính những người thực thi nó ở địa phương: từ nhân viên tòa thị chính, văn phòng nhà ở, cho đến hiệu trưởng trường học.
Tất nhiên, có một lập luận phản biện đáng kể. Các nhà phê bình nói rằng châu Âu đã tiếp nhận nhiều người hơn mức có thể, và việc quản lý tốt hơn chỉ là một khẩu hiệu bóng bẩy để chấp nhận dòng người nhập cư cao vĩnh viễn. Mối lo ngại đó không thể bị chế nhạo cho qua chuyện. Một số hệ thống ở địa phương thực sự đang quá tải. Một số khu phố đã thay đổi rất nhanh. Một số chính phủ rõ ràng đã mất kiểm soát về thời gian xử lý, việc trả người về và sắp xếp chỗ ở. Nhưng đây chính là lý do tại sao sự ám ảnh chỉ tập trung vào biên giới lại vô ích đến vậy. Nếu các quốc gia muốn giảm căng thẳng, họ cần cả giới hạn đáng tin cậy và sự hội nhập đáng tin cậy. Thiếu một trong hai chẳng khác nào tự hại về mặt chính trị.
Vậy một chính sách di cư ít giả dối hơn sẽ trông như thế nào? Thứ nhất, các quyết định phải nhanh hơn. Các đơn xin tị nạn kéo dài nhiều năm làm hỏng mọi thứ. Những người đủ điều kiện cần được bảo vệ và có con đường hòa nhập cuộc sống bình thường một cách nhanh chóng. Những người không đủ điều kiện cần có quyết định và được trả về theo đúng quy trình pháp lý nhưng không có sự trì trệ vô tận. Thứ hai, các con đường lao động hợp pháp phải được mở rộng và gắn liền với tình trạng thiếu hụt thực tế. Nếu nền kinh tế cần nhân viên chăm sóc, tài xế, nông dân, kỹ sư và thợ xây, luật pháp nên quy định rõ ràng và xử lý đơn xin việc với tốc độ phù hợp với thực tế. Thứ ba, chính quyền địa phương cần được cấp tiền ngay từ đầu, chứ không phải sau khi hệ thống đã sụp đổ. Nhà ở, trường học và văn phòng đăng ký không thể vận hành chỉ bằng những bài diễn văn đạo đức.
Thứ tư, hội nhập phải bắt đầu từ ngày đầu tiên. Các lớp học ngôn ngữ, cơ hội việc làm, đánh giá bằng cấp và định hướng công dân cơ bản không nên được coi là những thứ xa xỉ. Chúng là cơ sở hạ tầng cốt lõi của hòa bình xã hội. Các quốc gia để người mới đến bị mắc kẹt trong tình trạng lấp lửng về mặt pháp lý thì không nên tỏ ra sốc khi kết quả là sự phụ thuộc và tức giận. Cuối cùng, các nhà lãnh đạo cần ngừng nói dối cử tri. Di cư không thể bị quy giản thành một vấn đề an ninh, và cũng không thể được đối xử như một sân khấu đạo đức mà ở đó các giới hạn thực tế không tồn tại. Nó là vấn đề về năng lực nhà nước, vấn đề thị trường lao động, vấn đề nhà ở, và vấn đề nhân quyền, tất cả cùng một lúc.
Đó là sự thật phũ phàng mà nhiều chính phủ đang né tránh. Cuộc khủng hoảng di cư của châu Âu không còn được định hình chủ yếu bởi việc ai đến được bờ biển. Nó được định hình bởi những gì các quốc gia làm sau khi máy quay rời đi. Một quốc gia không thể xử lý đơn xin tị nạn, cung cấp nhà ở cho các gia đình và đưa người dân vào làm việc sẽ không thể thuyết phục công chúng rằng họ đang kiểm soát được tình hình. Và một tầng lớp chính trị cứ lớn tiếng về biên giới trong khi bỏ bê việc hội nhập thì không phải đang giải quyết vấn đề di cư. Họ đang tạo ra làn sóng phản ứng dữ dội tiếp theo.
Nguồn: Editorial Desk